1.2 CLASSIFICATION OF MUSICAL INSTRUMENTS OF VIET ETHNIC GROUP

In this thesis, we apply the principles of classification of musical instruments proposed by E.M.HORNBOSTEL, C. SACHS-Western musicologists of the 20th century, and other musicologists. Musical instruments are divided based on the 2 following principles:

The First Principle: Based on the source of materials moving to create sound, there are four big sets:

1.   CHORDOPHONE includes musical instruments that are based on the source of sound created by chords.

2.   AIROPHONE musical instruments that are based on the moving of the air contained in an object.

3.   MEMBRANOPHONE consists of musical instruments that are based on the vibration of a membrane.

4.   IDIOPHONE consists of musical instruments that are based on the vibration of the whole musical instruments.

The Second Principle: Based on the way of making sounds, musical instruments of the same set are divided into branches. For chordophone, for example, the strings can be stimulated vibrating by using a bow like fiddle, or a plectrum to pluck, or an object to beat. Hence, we have:

-         Chordophonic musical instruments of plucking branch such as Nguyệt, Ðáy, Tam lute.

-         Chordophonic musical instruments of bowing branch such as Cò (Nhị), Gáo fiddle.

-         Airophonic musical instruments of blowing branch such as Sáo flute

-         Membranophonic musical instruments of beating branch such as Sấm drum  or Chiến drum

-         Membranophonic musical instruments of flapping branch such as Cơm drum

-         Idiophonic musical instruments of rubbing branch such as Sênh tiền

1.2-XẾP LOẠI NHẠC KHÍ DÂN TỘC VIỆT

rong tài liệu  này chúng tôi sử dụng những nguyên tắc phân loại nhạc khí của các nhà nhạc học Phương Tây đầu thế kỷ 20 E.M.HORNBOSTEL   và C.SACHS  và các nhà nhạc học khác. Nhạc khí đã phân chia dựa trên hai nguyên tắc như sau:

NGUYÊN TẮC 1: Nguồn vật chất chuyển động tạo ra âm thanh, từ nguồn này chia làm 4 bộ lớn như sau:

1- BỘ DÂY (Cordophone): là nhạc khí dựa trên nguồn dây rung.

2-BỘ HƠI (Aérophone): là nhạc khí dựa trên sự rung của khối không khí chứa trong một vật.

3-BỘ MÀNG (Membranophone): là nhạc khí dựa trên sự rung của một màng căng.

4-BỘ TỰ THÂN VANG (Idiophone): là nhạc khí vang dựa trên sự rung của toàn bộ nhạc cụ.

NGUYÊN TẮC 2: Phương pháp kích âm, để từ phương pháp này chia các nhạc khí trong cùng một Bộ thành các Chi (ví dụ Bộ Dây): để kích cho dây rung có thể dùng cung kéo, hoặc dùng miếng gảy hay dùng một vật đập gõ vào dây. Như vậy ta có các nhạc khí như:

Many Vietnamese instruments have been recorded in historical documents such as Bà Lỗ, cái Tất Lật (which is also called Pili. It differs form Sona by its round body. Pili is used in Trần dynasty’s Ðại nhạc, or Great orchestra) (Pro. Dr. Trần Văn Khê - Âm Nhạc Ðông Nam Á- page 39, line 20). There are musical instruments that are rarely used in practice such as Cái Ngữ, which has the shape of tiger lying in ambush. On its back are 27 metal teeth or 32 wooden board, playing by using a piece of wood to rub on the teeth or the wooden boards. Cái Chúc is a wooden square musical instrument, 1.5m (old metric measures) in depth. Many other musical instruments were invented by the prehistoric men in Vietnam like Bronze Drum, Chiêng, Cồng, Kền, monochord đàn Bầu, đàn Ðáy, etc. Through cultural exchanges, some instruments have been introduced into Vietnam from other countries such as Kèn Bầu, đàn Tỳ Bà. Then they are modified by the local people to be more suitable fro expressing our traditional music and has become instruments of Vietnam. Some brought from far-away countries are also localized in component as well as in performing technique to fit the taste in art of Việt people. They are popularized and considered musical instruments of Vietnam. The Spanish Guitar, for example. This was modified with the wood bars between the frets that were hollowed out to facilitate deep pressing on strings, and has gradually become Vietnamese guitar.

Since the latter half of the century, a great number of musical pieces have been composed, which requires the Vietnamese traditional musical instruments to be modified so that they are able to fully express human beings’ emotion and thinking and the societies. Therefore, more traditional musical instruments have been modified. There are chordophonic musical instruments of plucking branch such as đàn Ðáy, đàn Tranh, đàn Tỳ bà; of bowing branch such as đàn Cò (Nhị), đàn Gáo (also called Hồ), đàn Cò lòn; aerophonic instruments such as transverse flute Sáo ngang, vertical flute Tiêu, kèn Bầu; membranophonic instruments such as Trống Ðế , Trống Cơm, Trống Ðồng (Bronze Drum); and Idiophonic instruments of the Việt ethnic group such as Sênh, Phách (castanet), Sênh tiền, Phách tre (bamboo castanet), Phách gỗ (wooden castanet), Mõ, Mõ sừng trâu (a part of a hollowed buffalo horn).

Vietnamese musical instruments are very abundant and diversified. Hence, this thesis will only aim at “briefly introducing some typical musical instruments of Việt people (or Kinh ethnic group. It will not cover the variations of traditional musical instruments, especially those of the 1990s up to now, and the musical instruments of minority peoples.

Nhiều nhạc khí Việt Nam còn để lại trong sử sách như Ðàn Bà Lỗ, cái Tất lật (Kèn Tất Lật còn gọi là Pili tựa như ống quản là loại kèn có dăm, kèn này khác kèn Sona ở chỗ thân kèn có hình ống tròn chứ không phải hình nón, không có bát. Pili có mặt trong Ðại nhạc của Việt Nam vào thời Trần ) (GSTS. Trần văn Khê - Âm nhạc Ðông Nam Á - dòng 20 trang 39), có thứ còn hình dung được nhưng trong dân gian ít thấy sử dụng như Cái Ngữ là nhạc khí giống như hình hổ phục, lưng có 27 răng kim loại hoặc 32 tấm phách gỗ, tấu bằng cách sử dụng một miếng gỗ quẹt vào các răng hoặc phách. Cái Chúc là nhạc khí bằng gỗ, hình như cái đấu vuông, sâu một thước năm tất cổ. Những nhạc khí do những cư dân từ thời tiền sử sống trên đất nước Việt Nam sáng tạo như Trống Ðồng, Chiêng, Cồng, Kềnh, Ðàn Bầu, Ðàn Ðáy, v..v.... Theo con đường giao lưu văn hóa qua nhiều thế kỷ, một số nhạc khí của các nước đã được du nhập vào đất nước Việt Nam như là Kèn Bầu, Ðàn Tỳ Bà... đã được người Việt Nam sử dụng, trong quá trình diễn tấu để phù hợp và có khả năng thể hiện sâu sắc tình cảm, hình tượng âm nhạc mang đậm đà tính dân tộc, người Việt đã cải tiến các nhạc khí trên, dần dần trở thành những nhạc khí của Việt Nam. Có những nhạc khí có xuất xứ rất xa nhưng đã được Việt Nam hóa cải tiến một số bộ phận và cả về kỹ thuật diễn tấu, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của người Việt và được rộng rãi quần chúng Việt Nam yêu thích và coi như là nhạc khí Việt Nam ví dụ như cây Ðàn Guitare Tây Ban Nha: trên dọc (cần đàn) được khoét lõm giữa các phím đàn để nghệ sĩ nhấn dây và trở thành cây Ðàn Ghi-Ta Việt Nam.

Từ nửa thế kỷ nay, nhiều tác phẩm khí nhạc được sáng tác đòi hỏi các nhạc khí truyền thống Việt Nam phải cải tiến thêm để có đủ điều kiện diển tả về các mặt tư tưởng, tình cảm phong phú của con người, xã hội. Do đó có nhiều nhạc khí truyền thống đã được hoàn chỉnh, phát huy để phát triển nhiều hơn, các nhạc khí Dây: dây gảy như Ðàn Ðáy, Ðàn Tranh, Ðàn Tỳ Bà v..v... dây kéo như Ðàn Cò (Nhị), Ðàn Gáo (Hồ), Ðàn Cò Lòn,... các loại nhạc khí hơi như Sáo ngang, Tiêu, Kèn Bầu ... Nhạc khí màng rung như: Trống Ðế, Trống Chiến, Trống Cơm, Trống Bồng... và các nhạc khí tự thân vang của người Việt như : Sênh, Phách, Sênh tiền, Phách tre, Phách... và bao nhiêu thứ Mõ như Mõ sừng trâu, Mõ v..v...

Nhạc khí Việt Nam rất phong phú và đa dạng chúng tôi xin giới hạn đề tài trong khuôn khổ: "Giới thiệu giản lược một số nhạc khí tiêu biểu của Dân tộc Việt (Kinh), không đề cập đến các nhạc khí mới được cải tiến (cụ thể từ thập niên 90 của thế kỷ 20 đến nay) và nhạc khí của các Dân tộc ít người".